Wednesday, April 15, 2026

Hình phu nhân, Vương phu nhân, và trò chơi sinh tồn trong Giả phủ

Hình phu nhân và Vương phu nhân là hai bà lớn thuộc Vinh quốc phủ của nhà họ Giả, về địa vị, họ chỉ đứng sau Giả mẫu. Vì vậy cách tác giả xây dựng thân thế, quyền lực, tính cách của hai nhân vật này đều đáng để chúng ta bàn tới.



Vương phu nhân

Trước tiên, bàn về bức tranh toàn cảnh. 


Ninh Quốc công và Vinh Quốc công là hai anh em ruột, Ninh là cả, Vinh là thứ; vì vậy chi Ninh là đại phòng, chi Vinh là thứ phòng. Tuy nhiên, Ninh quốc phủ mục ruỗng từ gốc. Ông lớn Giả Kính đam mê luyện đan, nhường tước cho con là Giả Trân; Giả Trân và con trai là Giả Dung “chẳng chịu học hành, chỉ lo chơi bời cho thỏa thích, đảo lộn cả cơ nghiệp phủ Ninh”. Ba người đàn ông trụ cột Giả Kính, Giả Trân, Giả Dung bị khắc họa là tầng lớp quý tộc suy đồi: mê sắc, ảo tưởng đến lú lẫn, không học hành, chính sự, chỉ ăn chơi, thậm chí phạm loạn luân (Giả Trân - Khả Khanh). Những địa điểm trong Ninh phủ không có nơi nào sạch sẽ: Thiên Hương Lầu, Ngưng Hy Hiên, Đăng Tiên Các đều là nơi diễn ra các cuộc truy hoan, rượu chè. Gia phong Ninh phủ vì vậy hiện lên bẩn thỉu, bê bối: trên thì gia chủ sa đọa, quan hệ trái luân thường, hưởng lạc, dưới thì đầy tớ, nha hoàn cũng bị cuốn theo môi trường đồi bại đó. Đúng như Liễu Tương Liên đã nhận xét: “Trong phủ Đông nhà chúng mày, ngoài hai con sư tử đá trước cổng phủ là sạch, còn thì đến mèo chó cũng bẩn cả”.




Vinh quốc phủ thì sao? Có ba điều khiến chúng ta nhận ra Vinh quốc phủ mới là nơi quy tụ quyền lực, tình cảm, và “hào quang” của cả họ Giả. 


Thứ nhất, Nguyên Xuân được phong Quý phi, có địa vị hiển quý, triều đình cho xây Đại Quan viên ngay trong Vinh quốc phủ để làm nơi về tỉnh thân; đây là bước ngoặt quan trọng khiến Vinh phủ trở thành trung tâm lễ nghi, phồn hoa của nhà họ Giả. 


Thứ hai, Giả mẫu – người có quyền hành tối cao, đại diện cho "linh hồn" truyền thống và quyền uy tinh thần của cả họ Giả – lại sống ở Vinh phủ, không ở Ninh phủ. 


Thứ ba, những nhân vật trung tâm, tinh hoa nhất của tiểu thuyết – Giả Bảo Ngọc, Lâm Đại Ngọc, Tiết Bảo Thoa, Phượng Thư, Thám Xuân, Tích Xuân… – đều sống và hoạt động chủ yếu trong không gian Vinh quốc phủ và Đại Quan viên. 


Tóm lại, trong hiện thực xã hội mà truyện mô tả, quyền lực thực của nhà họ Giả đã chuyển sang chi Vinh.


Điều này nghĩa là gì? Việc đảo ngược thứ tự, gạt chi trưởng mục nát "ra rìa" chứng tỏ rằng trong thực tế xã hội phong kiến - quý tộc, trật tự tôn ti nghe thì rất hay nhưng cũng chỉ là lý thuyết. Điều quyết định thực quyền không phải huyết thống danh nghĩa, mà là thực lực: ai được ân sủng triều đình, ai có thể diện, tài lực, và mạng lưới quan hệ. Một chi trưởng đánh mất cả văn hóa nội bộ lẫn uy tín xã hội, dẫu mang danh “đại phòng”, không thể đóng vai trò đó.



Nguyên Xuân về thăm nhà


Thú vị ở chỗ, mô hình chênh lệch, bất tôn ti này lại được lặp lại ở tương quan hai nhân vật Vương phu nhân - Hình phu nhân. 


Hình phu nhân là vợ cả của Giả Xá, con dâu trưởng của Giả mẫu, mẹ ruột của Giả Liễn và là mẹ chồng của Vương Hy Phượng. Vương phu nhân là vợ chính thất của Giả Chính, mẹ ruột của Giả Bảo Ngọc và Giả Nguyên Xuân. Theo thứ bậc, Hình phu nhân phải đứng trên Vương phu nhân. Nhưng thực tế lại cho thấy ngược lại. Vương phu nhân mới là người chiếm vị trí cao nhất sau Giả mẫu. 


Điều này được thể hiện ngay ở chương Ba, khi Đại Ngọc lần đầu đến Vinh quốc phủ. 


Đây là nơi ở của Hình phu nhân:


"Hình phu nhân dắt Đại Ngọc bước vào trong dinh. Đại Ngọc đoán những nhà vừa đi qua tất là vườn hoa trong Vinh phủ. Vào nghi môn thứ ba, quả nhiên thấy phòng chính, phòng bên, hành lang, đều chạm vẽ tinh vi khác với vẻ cao rộng hùng vĩ ở mé ngoài. Trong dinh, chỗ nào cũng có cây cảnh núi non rất đẹp. Khi vào đến nhà chính đã thấy nhiều a hoàn và người hầu ăn mặc lịch sự ra đón."


Còn đây là nơi ở của Vương phu nhân:


"Người hầu dẫn Đại Ngọc đi quay về phía đông, qua xuyên đường, sau nhà lớn hướng nam, trong cửa nghi môn, có một dinh tọ Đằng trước là nhà chính, có năm gian rộng, hai bên là hai dãy buồng, cửa ngách hành lang, từ nhà nọ sang nhà kia thông suốt bốn mặt ngang dọc rộng rãi, tráng lệ nguy nga, khác hẳn chỗ ở của Giả mẫu. Đại Ngọc biết ngay chỗ này là nhà trong. Một con đường rộng rãi, đi thẳng đến cửa lớn. Bước lên thềm, ngẩng trông thấy ngay một cái biển lớn sơn xanh chạm chín con rồng thiếp vàng, trên khắc ba chữ to “Vinh hy đường” bên cạnh có một hàng chữ nhỏ đề ngày tháng vua viết ban cho Vinh quốc công là Giả Nguyên, có cả ấn “Vạn cơ thần hàn”. Trên cái án thư gỗ đàn hương chạm con li, đặt một cái đỉnh đồng cổ, cao gần ba thước, trên treo một bức vẽ long ám lớn có đề bốn chữ “đãi lậu tùy triều”. Một bên bày cái chậu pha lê, một bên bày cái bình vàng chạm. Dưới đất đặt hai hàng mười sáu cái ghế gỗ nam, có một đôi câu đối khắc chữ vàng:


Chậu ngọc trên lầu trông chói lọi;


Ái xiêm ngoài của bóng huy hoàng.


Dưới có lạc khoản. “Em thế nghị là Mục Thời, tập tước Đông An Quận Vương, tự tay viết”.


Ngày thường Vương phu nhân không hay ở phòng giữa, chỉ ở ba gian phía đông bên cạnh. Vì thế người hầu già dẫn Đại Ngọc vào cửa buồng bên đông. Trên bục lớn, trông ra cửa sổ, rải một tấm thảm nhung đỏ, giữa đặt gối tựa bằng vóc đại hồng, gối đầu bằng vóc màu thạch thanh và đệm vóc màu vàng đều thêu kim tuyến; hai bên đặt một đôi kỷ nhỏ sơn đen kiểu hoa mai; kỷ bên trái bày một cái đỉnh “Văn chương” hộp đựng hương và thìa đũa; kỷ bên phải bảy một cái bình “Mỹ nhân” bằng sứ Như Châu, cắm hoa tươi. Dưới đất phía tây bày bốn ghế tựa to, có đệm vóc hoa, dưới ghế có cái kê chân; hai bên ghế có một đôi kỷ cao , trên có đủ đồ chê, lọ hoa. Còn nhiều đồ trần thiết không kể xiết.


Một bà hầu già mời Đại Ngọc ngồi trên bục, có hai đệm gấm rải đối nhau. Đại Ngọc đoán chừng, ngồi đây không tiện, nên sang ngồi ghế mé đông. A hoàn mời nước trà. Đại Ngọc vừa uống, vừa ngắm bọn a hoàn, thấy trang sức, cử chỉ khác hẳn mọi người.


Khí phái, phong độ, tầm vóc quả là khác nhau một trời một vực! Trong Hồng Lâu Mộng, không gian sống của mỗi nhân vật không chỉ là chỗ trú ngụ, mà còn biểu thị vị thế, cốt cách, chí hướng của họ. Nơi ở của Hình phu nhân vẫn có dáng vẻ của một đại phu nhân, có dinh riêng, nghi môn, trang trí tinh xảo, người hầu có quy củ. Nhưng hoàn toàn thiếu vắng các yếu tố “thánh chỉ”, “ngự bút”, “công đường” thể hiện vinh hiển triều đình. Ngược lại, nơi ở Vương phu nhân được miêu tả dày đặc chi tiết, tràn ngập vàng ngọc, tầng lớp phú quý. Ngay gian phòng phụ của bà ta mà đã có "đồ trần thiết nhiều không kể xiết". Không gian sống của Vương phu nhân là một công trình phô bày uy thế: vừa nối với công lao Vinh Quốc công, vừa phô bày sự che chở của đế vương, lại phủ kín quan hệ ngoại thích (họ Vương, quận vương Mục Thời).


Tiếp theo, vị thế khác biệt thể hiện ở "vòng tròn quyền lực". Nếu Giả Mẫu là tâm điểm, thì Vương phu nhân chính là người sát bên cạnh, có quyền quyết định mọi việc trong nhà, với cánh tay phải là Phượng Thư. Giả mẫu cực kỳ thiên vị chi Giả Chính – Vương phu nhân, luôn bao che cho Bảo Ngọc, và tin rằng nhà ngoại họ Vương có phúc phần, thể hiện qua việc tin dùng Phượng Thư (cháu ngoại Vương phu nhân), giao chìa khóa tài chính, quyền thu chi trong phủ.



Giả mẫu, Vương phu nhân, và những người thân cận


Hình phu nhân tuy là dâu trưởng, nhưng chỉ quanh quẩn ở chi Giả Xá – Giả Liễn, không được giao trọng trách điều hành chung Giả phủ; những quyết định quan trọng hầu như không nhắc đến vai trò của bà ta. Việc Phượng Thư là con dâu không đem lại lợi thế gì cho Hình phu nhân. Trên thực tế, Phượng Thư thường tự quyết định các việc trong Giả phủ, nếu có việc gì quá phận, nàng chỉ hỏi ý kiến Giả mẫu hoặc Vương phu nhân, tuyệt nhiên không đếm xỉa gì đến bà mẹ chồng của mình. Cách Phượng Thư đánh giá về mẹ chồng không có lấy chút nào là hiếu kính "Phượng Thư hiểu rõ Hình phu nhân tính vốn khờ dại nhút nhát, chỉ tìm cách chiều chuộng Giả Xá để được yên thân, và tham vớ được nhiều tiền là thích, còn việc lớn nhỏ trong nhà đều mặc Giả Xá sắp đặt."


Chênh lệch trong đối xử của Phượng Thư còn thể hiện: với con trai của Hình phu nhân, Giả Liễn, cũng là nguyên phối của mình, Phượng Thư có yêu, có ghen, nhưng hầu như rất ít tôn trọng. Ngược lại, thái độ của nàng với Bảo Ngọc, con trai của Vương phu nhân, là chiều chuộng, nhường nhịn, kiêng nể hết mực. Qua đó có thể thấy sự kính trọng của Phượng Thư với mẹ chồng là sự qua quýt ngoài mặt, sự kính trọng của nàng với cô ruột, người nắm quyền thế thật sự, là vừa e sợ, vừa thân thiết, vừa muốn lấy lòng, khác nhau rất xa.


Vị thế chênh lệch của hai vị phu nhân còn thể hiện qua cách họ chà đạp lên thân xác a hoàn trong Giả phủ. Vương phu nhân có mối thù khắc cốt ghi xương với những cô gái trẻ đẹp, địa vị thấp. Tình Văn vì quá đẹp nên bị chụp mũ "giống yêu tinh", đang ốm cũng bị đuổi khỏi cửa, chết trong nhục nhã. Bà ta ghét Phương Quan vì đẹp và hát hay, coi nàng "giống hồ ly", từ đó giải tán cả gánh hát, bán toàn bộ các ca nương phục vụ trong phủ. Thậm chí một cô hầu thấp kém là Tứ Nhi, dù "không xinh đẹp bằng một nửa Tình Văn", nhưng vì "cử chỉ thông minh, trang điểm khác người" mà cũng bị nghi kỵ. Ngay đối với a hoàn thân cận của mình là Kim Xuyến, bà ta cũng nghi ngờ ve vãn Bảo Ngọc, khiến nàng phải nhảy giếng tự tử. Những đợt thanh trừng của Vương phu nhân trong phủ được miêu tả là "thế như sấm sét". Động cơ bề mặt của Vương phu nhân là sợ a hoàn quyến rũ Bảo Ngọc, nhưng nhìn sâu hơn, vì phải làm vợ một kẻ khắc kỷ, khô cứng như Giả Chính, khiến ẩn ức tình dục bị dồn nén, nên mỗi khi bị đe dọa bởi những cô gái đẹp, phản ứng của Vương phu nhân lại trở nên bạo lực và cực đoan. Đối với vợ lẽ chính thức của Giả Chính là dì Triệu, Vương phu nhân cũng không hề nể nang mà thẳng tay đàn áp.



Tình Văn ốm chết


Ngược lại, Hình phu nhân, người kết hôn với Giả Xá, lại ra sức câu kéo, dụ dỗ những cô gái trẻ về làm đồ chơi tình dục cho chồng mình. Tai tiếng của đôi vợ chồng này đến mức a hoàn đều rỉ tai nhau "chỉ hơi sạch mặt chút là đã bị ông nhìn rồi". 


Sự việc lên đỉnh điểm khi Giả Xá năm lần bảy lượt muốn lấy Uyên Ương, người hầu thân cận của Giả mẫu, làm thiếp. Thay vì khuyên nhủ chồng mình giữ lấy danh dự và hiếu đạo, Hình phu nhân lại liên tục mềm nắn rắn buông, tác động cả người nhà a hoàn để thuyết phục Uyên Ương, dẫn đến việc nàng uất ức cắt tóc, và treo cổ tuẫn tiết sau khi Giả mẫu mất. Chính Giả mẫu cũng phải ca thán về sự quỵ lụy chồng quá đáng của bà ta, "chị dâu cả của tôi, một tí gì cũng sợ chồng, trước mặt mẹ chồng chẳng qua cũng chỉ dựa dẫm cho xuôi chuyện thôi." Thậm chí Giả mẫu đã mắng thẳng "Ta nghe nói, chị đi làm mối cho ông nhà chị phải không? Chị cũng là hạng có đủ “tam tòng tứ đức” đấy. Nhưng cái hiền hậu của chị thật là quá đáng. Bây giờ nhà chị, con cháu đã đầy đàn rồi, thế mà chị còn sợ ông ấy. Tại sao chị không can ngăn câu nào, cứ mặc cho ông ấy muốn giở tính gì thì giở."


Vì sao Hình phu nhân lại hành động như vậy? Phải chăng bà ta đã vượt lên tâm lý nữ nhi thường tình, không còn ghen tuông nữa? Hoàn toàn không phải. Thực ra Hình phu nhân ý thức rất rõ trong tư tưởng của đàn ông phong kiến Trung Quốc, nhất là những kẻ ham sắc như chồng bà ta, thì "thê không bằng thiếp, thiếp không bằng tỳ, tỳ lại không bằng kỹ nữ". Toàn bộ hành vi của bà ta là sự chấp nhận vị thế đó, bởi đối với kẻ dâm ô như Giả Xá, “thịt tươi” luôn hấp dẫn hơn vợ cả già cỗi. Thân là đại phu nhân cao quý, nhưng Hình phu nhân luôn sống trong nỗi thấp thỏm làm phật lòng chồng, từ đó cam chịu biến mình thành người cung cấp “thịt tươi” để đổi lấy cảm giác an toàn . 



Uyên Ương cắt tóc


Cả hai phu nhân đều tàn nhẫn, nhưng sự tàn nhẫn của Vương phu nhân xuất phát từ địa vị chắc chắn + tâm lý ghen tuông, còn sự tàn nhẫn của Hình phu nhân đến từ từ địa vị mong manh + tâm lý quỵ lụy. 


Vì sao Hình phu nhân bị lép vế trước Vương phu nhân?


Thứ nhất, cần đặt xuất thân của hai vị phu nhân lên bàn cân. Vương phu nhân vốn là nhị tiểu thư nhà họ Vương, một trong bốn gia đình hào môn giàu có nhất đất Kim Lăng bên cạnh họ Giả, họ Sử, và họ Tiết. Câu tục ngữ "vua Đông Hải thiếu ngọc trắng làm giường, phải đến vay Kim Lăng nửa lạng” chính là chỉ gia tộc họ Vương. Bốn gia tộc này cũng gắn bó chặt chẽ với nhau: Giả mẫu là người họ Sử, em gái của Vương phu nhân được gả vào nhà họ Tiết "ngọc châu như đất, vàng thời sắt thoi", lại càng như gấm thêm hoa. Những mối quan hệ ràng buộc cùng có lợi của bốn dòng họ cự phú này đã có từ nhiều đời, khiến xuất phát điểm của Vương phu nhân ngay từ đầu đã rất cao. Vương phu nhân bước vào Giả phủ không chỉ với thân phận vợ Giả Chính, mà còn là đại diện của cả một thế lực có tiền, có quyền. Khi Phượng Thư - cháu ruột của bà ta trở thành người nắm quyền điều hành mọi việc trong ngoài của Giả phủ, địa vị của Vương phu nhân càng được củng cố.

Gia thế của Hình phu nhân ra sao? Tác giả tế nhị không nói rõ, nhưng chúng ta có thể suy ra. Hình Tụ Yên – cháu gái Hình phu nhân, vì gia cảnh sa sút nên phải đến ở nhờ nhà họ Giả, sống nương dựa. Việc một nhánh họ Hình phải gửi con gái sang Giả phủ ở nhờ cho thấy họ Hình không những không thuộc hàng cự phú như họ Vương mà còn vừa nghèo, vừa lệ thuộc vào Giả phủ. Hình phu nhân, vì vậy, dù là đại tẩu nhưng không có ngoại thích chống lưng, đành nép vào hậu trường, ra sức lấy lòng chồng và mẹ chồng.


Thứ hai, phu quân của Vương phu nhân - Giả Chính, tuy thứ bậc trong tông tộc đứng dưới anh, nhưng lại có đường hoạn lộ sáng cửa hơn Giả Xá. Hồng Lâu Mộng ghi rõ: Giả Xá là con trưởng, được tập tước từ cha, còn Giả Chính là em, nhưng được Hoàng thượng "đặc cách phong tước”. Điều này cho thấy sự ưu ái đặc biệt cho Giả Chính, không chỉ là tước tập ấm cha truyền con nối, mà là ân điển trực tiếp từ vua dựa trên học vấn và công vụ, chưa kể còn trực tiếp hưởng ân sủng thông qua Nguyên phi. Giả Xá kế thừa chức nhưng hoàn toàn không có thành tựu nổi bật, chỉ là ăn sẵn. Không những thế, Giả Xá còn tham lam, tha hóa, lợi dụng thân phận trưởng tử để trục lợi, trong khi đó Giả Chính làm quan có uy tín, không công khai nhận hối lộ, giữ lễ nghĩa, chính trực, trong ngoài đều được công nhận là một vị quan tốt. Vợ nhờ uy chồng, việc Giả Chính được đặc cách phong tước, có chức quan rõ ràng khiến vị thế của Vương phu nhân trong phủ cao hẳn lên, còn Hình phu nhân càng dễ bị lấn át.


Thứ ba, người Trung Quốc có câu Mẫu dĩ tử quý (nghĩa là người mẹ nhờ con mà trở nên quý hiển). Trong lịch sử phong kiến, mẹ của hoàng tử, trạng nguyên, sủng phi,… đều nhờ con mà được kéo địa vị lên theo. Tuy Vương phu nhân và Hình phu nhân cùng là dâu Giả phủ, nhưng “chất lượng” con cái khiến người mẹ một bên ngày càng nhẹ bước đường mây, một bên ngày càng mờ nhạt, bị coi thường. Vương phu nhân có hai món đầu tư sinh lời: con gái Nguyên Xuân vào cung, được phong Nguyên phi, là trụ cột nối thẳng Giả phủ với hoàng triều, con trai Bảo Ngọc – ái tử ngậm ngọc, được Giả mẫu sủng ái tuyệt đối, là trung tâm tình cảm và kỳ vọng của cả nhà.

Ngược lại, Hình phu nhân chỉ có "của để dành" là Giả Liễn. Giả Liễn là kẻ yếu đuối về ý chí, chỉ biết hưởng lạc. Những lần ăn chơi, trăng hoa, lôi thôi, lén cưới thiếp, ngủ với gia nhân, đánh vợ,... khiến Giả mẫu, Giả Chính, Vương phu nhân phải phiền lòng, chán ghét. Có thể nói Hình phu nhân gần như là “Mẫu dĩ tử ti” (mẹ bị hèn đi vì con). Cuối truyện, những phi vụ làm ăn phi pháp, cho vay nặng lãi do vợ chồng Giả Liễn thao túng bị khui ra, khiến tội trạng của Giả phủ càng thêm nặng, góp phần kéo tụt cơ đồ nhà họ Giả; từ đó, Giả Liễn trở thành tội đồ của cả dòng họ.


Điểm cuối cùng khiến Vương phu nhân thắng thế so với Hình phu nhân nằm ở công phu hàm dưỡng, hay nói cách khác là "thuật" do chính bà ta rèn luyện. Dù tâm địa tàn nhẫn, Vương phu nhân vẫn giữ được vỏ bọc đạo đức: ăn chay, niệm Phật, ít lộ mặt tranh giành trực diện, luôn ưu tiên dùng "con dao" Phượng Thư để xử lý kín kẽ. Lớp vỏ mộ đạo, hiền lành này không chỉ khiến bà đỡ bị người dưới ca thán, mà còn lấy được cảm tình của mẹ chồng. Ngược lại, từ đầu đến cuối Hình phu nhân hoàn toàn không thể hiện được phong thái cao quý của một bậc đại phu nhân. Bà ta hiện lên trong mắt mọi người là một kẻ "hờ hững, ích kỉ, chỉ lo quyền lợi bản thân, ngay cả con cháu cũng không chăm lo mấy". Thái độ của người dưới với Vương phu nhân là nể và sợ, với Hình phu nhân là chán và ghét. Điều này thể hiện khả năng kiềm chế, diễn vai mệnh phụ của Vương phu nhân về cơ bản là cao hơn hẳn Hình phu nhân ti tiện và nông cạn. Điều này một phần đến từ môi trường xuất thân cao quý, được giáo dục kỹ lưỡng, một phần chính là do Vương phu nhân tự mình dày công tu dưỡng, không thể xem thường.


Kết luận


Qua hình tượng hai phu nhân của Vinh quốc phủ, Tào Tuyết Cần không chỉ kể chuyện nội bộ một đại gia tộc, mà còn phơi bày logic vận hành của cả một trật tự phong kiến đã mục ruỗng: danh nghĩa và tôn ti chỉ là vỏ, còn thực quyền chảy về tiền tài, thế lực, quan hệ, và cả kỹ năng “quản lý hình ảnh”. Ta có cặp đối lập: một bên là phu nhân tàn nhẫn một cách có chiến lược, một bên là phu nhân đánh mất cả uy nghi lẫn lòng người. Song trong thế giới đang trên đà sụp đổ của nhà họ Giả, rốt cuộc họ đều là kẻ thua cuộc. Bởi làm phụ nữ trong xã hội nam quyền vốn là một ván cờ không thể thắng: hoặc cam chịu thân phận nạn nhân thuần túy, hoặc buộc phải lợi dụng chính hệ thống ấy – và trong cả hai lựa chọn, cái giá phải trả đều là nhân tính của chính mình.

No comments:

Post a Comment